BÌNH LUẬN MỘT SỐ ĐIỂM MỚI VỀ BIỂU MẪU ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP (TT 01/2021/TT-BKHDT)

Thông tư 01/2021/TT-BKHDT bao gồm 07 Điều và Phụ lục kèm theo. Phụ lục bao gồm hệ thống 102 biểu mẫu sử dụng trong đăng ký doanh nghiệp, đăng ký hộ kinh doanh. Hệ thống biểu mẫu được chia thành 8 nhóm, cụ thể: Nhóm 1: Giấy đề nghị đăng ký doanh nghiệp và Danh sách kèm theo; Nhóm 2: Thông báo và văn bản khác do doanh nghiệp phát hành; Nhóm 3: Mẫu văn bản quy định cho hộ kinh doanh; Nhóm 4: Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh; Nhóm 5: Thông báo và các văn bản khác của Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh; Nhóm 6: Mẫu văn bản quy định cho Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện; Nhóm 7: Mẫu văn bản quy định cho tổ chức, cá nhân; Nhóm 8: Phụ lục khác.

Biểu mẫu được ban hành kèm theo thông tư này có cả những điểm thêm mới và cả những điểm bỏ đi cho phù hợp những cũng có những điểm chưa đúng vẫn không được sửa đổi, chẳng hạn như:

  1. Ở phần Giấy đề nghị đăng ký doanh nghiệp đã bổ sung thêm phần: Thành lập trên cơ sở chuyển đổi từ cơ sở bảo trợ xã hội/quỹ xã hội/quỹ từ thiện (tại mục Tình trạng pháp lý) và phần thông tin tương ứng cũng được bổ sung tại mục: Thông tin về cơ sở bảo trợ xã hội/quỹ xã hội/quỹ từ thiện được chuyển đổi;

  2. Tại mục Địa chỉ trụ sở chính đã bổ sung thêm mục: (a) Công ty chứng khoán/Công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán/Công ty đầu tư chứng khoán: (Đánh dấu X nếu là Công ty chứng khoán/Công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán/Công ty đầu tư chứng khoán và kê khai thêm các thông tin sau đây) - Giấy phép thành lập và hoạt động số: ........... (nếu có) do Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cấp ngày:…/…./…. ; (b) - Doanh nghiệp có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại đảo và xã, phường, thị trấn biên giới; xã, phường, thị trấn ven biển; khu vực khác có ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh5: Có □ Không. Việc thay đổi là đáp ứng quy định của pháp luật về đầu tư và phù hợp với nhu cầu thực tế quản lý doanh nghiệp của cơ quan nhà nước.

  3. Xóa bỏ cụm từ "Danh sách" trong mục Danh sách thành viên công ty hoặc danh sách cổ đông sáng lập của Giấy Đề Nghị Thành lập doanh nghiệp bằng cụm từ Thành viên công ty hoặc cổ đông sáng lập => sự thay đổi này là phù hợp vì rõ ràng trong biểu mẫu Đề nghị DKDN này thì việc liệt kê phải là liệt kê Cổ đông sáng lập hoặc thành viên công ty chứ không phải là danh sách, đây là cách dùng từ đúng vì chủ thể được hướng đến ở đây là "cá nhân/pháp nhân" chứ không phải là danh từ chỉ vật "danh sách".

  4. Thay đổi cụm "thời điểm góp vốn" bằng cụm từ "thời hạn góp vốn" trong danh sách thành viên/danh sách cổ đông sáng lập. Sự thay đổi này là hợp lý vì thời điểm là một thời gian xác định cụ thể và nếu ghi như vậy thì sẽ rất khó khăn cho các cổ đông/thành viên góp vốn khi phải xác định trước một ngày nào đó trong tương lai để ghi vào danh sách, việc làm này là không cần thiết. Do đó, danh sách này tại Thông tư 01/2021/TT-BKHDT đã được thay đổi theo hướng "thời hạn", theo quy định mới này thì chúng ta hiểu: Thời hạn là một khoảng thời gian được xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác (Điều 144 BLDS 2015), và theo đó thì khi lập hồ sơ đăng ký doanh nghiệp thì chỉ cần ghi theo hướng khoảng thời hạn bao lâu (theo Luật DN) mà không phải ghi rõ ngày tháng năm cụ thể, điều này cũng tạo ra sự dễ dàng hơn, không phải nhớ hay xem lại hồ sơ đã lưu khi làm các hồ sơ thay đổi có liên quan.

  5. Điểm mới quan trọng: Tại mục Tài sản góp vốn đã thay đổi từ "Giá trị quyền sử dụng đất" và "Giá trị quyền sở hữu trí tuệ" thành "Quyền sử dụng đất" và "Quyền sở hữu trí tuệ", sự thay đổi này xuất phát từ sự thay đổi tại Điều 34 Luật DN 2020: "Tài sản góp vốn là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, tài sản khác có thể định giá được bằng Đồng Việt Nam". Trước đây, tại Điều 35 Luật DN 2014 thì "Tài sản góp vốn có thể là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác có thể định giá được bằng Đồng Việt Nam. Sự thay đổi này là thuyết phục và hợp lý, bởi lẽ theo khoản 10 Điều 3 Luật Đất Đai 2014 quy định: "Chuyển quyền sử dụng đất là việc chuyển giao quyền sử dụng đất từ người này sang người khác thông qua các hình thức chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất và góp vốn bằng quyền sử dụng đất", do vậy theo tác giả, quyền sử dụng đất là một loại tài sản có thể dùng để góp vốn, còn giá trị quyền sử dụng đất là giá trị bằng tiền của quyền sử dụng một diện tích đất nhất định trong thời hạn sử dụng đất xác định, chỉ để tính toán khi góp vốn, chuyển nhượng hoặc bồi thường khi thu hồi đất. Tức là không phải góp vốn bằng “giá trị” mà là góp vốn bằng quyền sử dụng một mảnh đất và quyền đó có giá trị nhất định.

  6. Biểu mẫu vẫn giữ lại "VNĐ" mà không sửa đổi cho đúng với ký hiệu đơn vị tiền tệ của Việt Nam, Đơn vị tiền tệ sử dụng trong kế toán là Đồng Việt Nam, ký hiệu quốc gia là “đ”, ký hiệu quốc tế là “VND” (khoản 1 Điều 10 Luật kế Toán).

  7. Tại các biểu mẫu đều có những chú thích hướng dẫn cách ký, trong đó có nội dung: "Trường hợp đăng ký chuyển đổi loại hình doanh nghiệp đồng thời đăng ký thay đổi người đại diện theo pháp luật thì Chủ tịch công ty/Chủ tịch Hội đồng thành viên của công ty sau chuyển đổi ký trực tiếp vào phần này. Việc bổ sung này là thể hiện theo đúng quy định tại Nghị định 01/2021/NĐ-CP về Hướng dẫn đăng ký doanh nghiệp, cụ thể tại đoạn 2 khoản 5 Điều 24 có quy định: "Trường hợp doanh nghiệp đăng ký chuyển đổi loại hình doanh nghiệp đồng thời đăng ký thay đổi người đại diện theo pháp luật thì người ký hồ sơ là Chủ tịch Hội đồng thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty hợp danh; Chủ tịch công ty hoặc Chủ tịch Hội đồng thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên; Chủ tịch Hội đồng quản trị đối với công ty cổ phần của công ty sau chuyển đổi".

  8. Đã bổ sung nhiều biểu mẫu mới, đáp ứng được nhu cầu thực tế như: Phụ lục II-23 - Thông báo về việc hủy bỏ Nghị quyết/Quyết định giải thể doanh nghiệp; Phụ lục II-25 - GIẤY ĐỀ NGHỊ - Dừng thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp; cam kết thực hiện mục tiêu xã hội (Phụ lục II -26)...

  9. Tại mục hình thức hạch toán trong Giấy đề nghị bổ sung thêm lựa chọn: Hình thức hạch toán (Đánh dấu X vào một trong hai ô "Hạch toán độc lập” hoặc ''Hạch toán phụ thuộc”. Trường hợp tích chọn ô "Hạch toán độc lập" mà thuộc đối tượng phải lập và gửi báo cáo tài chính hợp nhất cho cơ quan có thẩm quyền theo quy định thì tích chọn thêm ô "Có báo cáo tài chính hợp nhất”): Có báo cáo tài chính hợp nhất.

  10. Bỏ phần Thông tin về tài khoản ngân hàng (nếu có) tại mục Thông tin đăng ký thuế;

  11. Tại phần cuối của Giấy đề nghị đã bổ sung thêm vào mục Tôi cam kết: "Là người có đầy đủ quyền và nghĩa vụ thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty";

  12. Tại mục chữ ký của Giấy đề nghị (Công ty TNHH hai thành viên trở lên và Công Ty cổ phần) Bổ sung: thêm cụm từ phái sau cụm từ Người đại diện theo pháp luật. Cụ thể như sau: NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT/CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ CỦA CÔNG TY hay NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT/CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG THÀNH VIÊN CỦA CÔNG TY

  13. TUY NHIÊN, Có một điểm đáng chú ý mà tác giả chưa thấy có sự nghiên cứu bổ sung vào biểu mẫu Giấy đề nghị liên quan đến phần Địa chỉ trụ sở chính. Cụ thể là tại phần: Quận/Huyện/Thị xã/Thành phố thuộc tỉnh. Như chúng ta đã biết, hiện nay Thành phố Thủ Đức được thành lập và là đơn vị hành chính (Nghị quyết số 1111/NQ-UBTVQH14) thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương. Tuy nhiên, ở mục đã nêu thì tác giả nhận thấy chưa bổ sung cụm từ: Thành phố thuộc thành phố trung ưng hoặc cụm từ "đơn vị hành chính tương đương" như theo Điều 110 Hiến pháp năm 2013 và Điều 51 Luật Tổ chức Chính quyền địa phương. Ngày trước, khi mô hình này chưa được phát triển trên thực tế mặc dù Luật đã có quy định thì việc các nhà làm luật chưa xây dựng vào biểu mẫu là điều có thể chấp nhận được, tuy nhiên nay thực tế đã có, lần đầu tiên Việt Nam có "Thành phố thuộc thành phố trung ương" vậy thì biểu mẫu cũng phải theo hướng bổ sung cụm từ "Quận/Huyện/Thị xã/Thành phố thuộc tỉnh/Thành phố thuộc thành phố trung ương". Tác giả cho rằng, Thông tư này được xây dựng và ban hành trong bối cảnh hướng dẫn Nghị định 01/2021/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp là thời điểm TP. Thủ Đức trực thuộc TP. Hồ Chí Minh đã được thành lập căn cứ theo Nghị quyết số 1111/NQ-UBTVQH14 của UBTVQH ngày 09/12/2020, do vậy việc bổ sung phải là điều được tính đến khi xây dựng biểu mẫu. Tuy nhiên, tại Biểu mẫu hiện nay vẫn chưa có sự bổ sung này.

  14. Và một vấn đề quan trọng nữa: như chúng ta đã biết, ngày 15/10/2020, Chính phủ ban hành NĐ 122/2020/NĐ-CP quy định về phối hợp, liên thông thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện, khai trình việc sử dụng lao động, cấp mã số đơn vị tham gia bảo hiểm xã hội, đăng ký sử dụng hóa đơn của doanh nghiệp. Theo đó, Nghị định này đã ban hành các biểu mẫu về Giấy Đề Nghị đăng ký doanh nghiệp và thông báo đăng ký hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh. Và tại khoản 4, Điều 10 có quy định: Mẫu Giấy đề nghị đăng ký doanh nghiệp, Thông báo về việc đăng ký hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện/địa điểm kinh doanh ban hành kèm theo Nghị định này thay thế cho các Phụ lục từ I-1 đến I-5 và Phụ lục II-11 ban hành kèm theo Thông tư số 02/2019/TT-BKHĐT ngày 08 tháng 01 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 20/2015/TT-BKHĐT ngày 01 tháng 12 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn về đăng ký doanh nghiệp". Tuy nhiên, tại điều khoản thi hành của NĐ 01/2021 lại không đề cập đến bất kỳ vấn đề gì liên quan trong sự chồng chéo này, Nghị định 01/2021/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp chỉ bãi bỏ Nghị định 78/2015/NĐ-CP và Nghị định 108/2020/NĐ-CP để rồi Thông tư hướng dẫn 01/2021/TT-BKHDT chỉ hướng dẫn Nghị định 01/2021 và thay thế các thông tư: thông tư số 20/2015/TT-BKHĐT ngày 01 tháng 12 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn về đăng ký doanh nghiệp và Thông tư số 02/2019/TT-BKHĐT ngày 08 tháng 01 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Rõ ràng là hiện nay chúng ta thấy Nghị định 122/2020 là hướng dẫn cơ chế liên thông trên cơ sở căn cứ theo Luật Doanh Nghiệp 2014. Tuy nhiên, Luật DN 2014 đã hết hiệu lực kể từ ngày 01/01/2021. Vậy nếu căn cứ vào Luật Ban Hành văn bản quy phạm pháp luật 2015, sửa đổi bổ sung 2020 thì tại Điều 154 có quy định: 2. Được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế bằng văn bản quy phạm pháp luật mới của chính cơ quan nhà nước đã ban hành văn bản đó. 4. Văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực thì văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết thi hành văn bản đó cũng đồng thời hết hiệu lực. Căn cứ nêu trên có thể nhận thấy nếu NĐ 122/2020 là văn bản quy phạm quy định chi tiết thi hành Luật DN 2014 thì về nguyên tắc cũng sẽ hết hiệu lực khi Luật DN 2020 có hiệu lực. Tuy nhiên, NĐ 122/2020 lại là văn bản quy định về phối hợp, liên thông thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện, khai trình việc sử dụng lao động, cấp mã số đơn vị tham gia bảo hiểm xã hội, đăng ký sử dụng hóa đơn của doanh nghiệp, ban đầu thì ta thấy Nghị định 122/2020 này có vẻ không phải văn bản chi tiết thi hành luật DN 2014, tuy nhiên, Nghị định này "chấp vá" thêm nhiệm vụ ban hành kèm theo Biểu mẫu Giấy Đề Nghị Đăng ký Doanh Nghiệp, Đăng ký hoạt động chi nhánh, Văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh, và Nghị định này cũng thay thế luôn các biểu mẫu (Biểu mẫu về DKDN) đã hành theo Thông tư 01/2019. Về phía mình, Nghị định 01/2021 lại quy định tại Điều 1: Đối tượng áp dụng: 2. Việc liên thông thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện, khai trình việc sử dụng lao động, cấp mã số đơn vị tham gia bảo hiểm xã hội, đăng ký sử dụng hóa đơn của doanh nghiệp thực hiện theo quy định tại Nghị định của Chính phủ quy định về phối hợp, liên thông thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện, khai trình việc sử dụng lao động, cấp mã số đơn vị tham gia bảo hiểm xã hội, đăng ký sử dụng hóa đơn của doanh nghiệp. Với quy định này thì phải chăng, việc áp dụng cơ chế liên thông vẫn theo quy định của Nghị định 122/2020 còn các biểu mẫu sẽ thực hiện theo NĐ 01/2021. Tuy vậy, nếu giải thích điều này như trên thì lại khó hiểu khi tại Điều khoản thi hành, NĐ 01/2021 lại không đề cập đến vấn đề này. Chúng ta quay lại nguyên tắc áp dụng pháp luật khi có mẫu thuẫn thì nhận thấy: Cả Nghị định 122/NĐ-CP và Nghị định 01/2021/NĐ-CP đều do một cơ quan ban hành là Chính Phủ. Và Nghị định 01/2021 được ban hành sau. Và nếu cả hai Nghị định này cùng điều chỉnh về một vấn đề mà lại có sự mâu thuẫn nhau thì ưu tiên áp dụng Nghị định ban hành sau (tức là Nghị định 01/2021). Tuy nhiên như đã nói ở trên, Nghị định 01/2021 lại không ban hành biểu mẫu mà giao quyền đó về cho Bộ kế hoạch và đầu tư - tức là thuộc về Thông tư 01/2021. Và nếu đặt trong mối quan hệ giữa các cơ quan ban hành ta dễ dàng nhận thấy, Nghị định 122/2020 là do Chính Phủ - cơ quan có thẩm quyền cao hơn Bộ kế hoạch và đầu tư - Thông tư 01/2021. Trong mối quan hệ chồng chéo này ta nhận thấy, Chỉ cần Nghị định 01/2021/NĐ-CP bãi bỏ phần "Biểu mẫu" được ban hành kèm theo thông tư 122/2020 thì có lẽ mọi chuyện đã rõ ràng và người áp dụng cũng không lấn cấn.

Trên đây là một số vấn đề được Hùng nêu ra để chia sẻ quan điểm cá nhân và trao đổi. Bài viết không nhằm mục đích chỉ trích hay Pr bản thân và kiến thức, hiểu biết của Tác giả là hữu hạn, vậy nên rất mong nhận được ý kiến đóng góp/phản hồi tích cực nhằm giúp tác giả hoàn thiện hơn nội dung bài viết.

Trân trọng.

P/s: Học Kỹ năng ở Legal Forum về hợp đồng, bạn không những được học tất cả về hợp đồng và còn THÊM KỸ NĂNG PHÂN TÍCH LUẬT/PHÁP LUẬT nhằm phản biện, ứng dụng nữa nè. Đặc biệt là còn được hướng dẫn tỉ mỉ về thủ tục đăng ký doanh nghiệp, đăng ký nội quy lao động và đăng ký biện pháp bảo đảm nữa nhé. Ngại gì mà không học.

LIÊN HỆ: ĐT/ZALO: 0865.786.009

Tham khảo chi tiết khóa học tại: 

http://bblaw.vn/khai-giang-khoa-dao-tao-thang-04-ky-nang-soan-thao-va-ra-soat-hop-dong-p4901.html